Chào mừng các bạn đã đến với web lớp 7/6 - Chi đội Nguyễn Văn Trỗi - trường THCS Lý Tự Trọng - Tam Kỳ - Quảng Nam. Chúc các bạn có một ngày học tập thật lý thú và bổ ích

Sinh nhật Bác

Sinh nhật Bác

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2016

Kết quả thi IOE cấp thành phố

Bạn Đỗ Huỳnh Nhân Huyền: 1890 điểm - giải Nhì
Bạn Nguyễn Đình Tùng: 1820 điểm - giải Ba

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

Danh sách học sinh tham gia thi IOE cấp thành phố

1. Đỗ Huỳnh Nhân Huyền
2. Nguyễn Đình Tùng
3. Lê Phạm Thị Thu Hương

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2016

Nguồn gốc và lịch sử Tết Dương lịch

 Ngày tết đầu năm dương lịch còn gọi là ngày tết Tây, được bắt đầu vào ngày 1-1 mỗi năm. Tuy nhiên, ngược dòng thời gian chúng ta sẽ thấy Tết Dương lịch ngày nay có một hành trình khá dài.

Tết Dương Lịch đã có từ lâu đời, biến đổi qua nhiều thiên kỷ trong lịch sử tiến hóa của loài người và hôm nay vẫn còn tồn tại. Hiện nay thế giới đón Tết Dương Lịch “New Year” vào ngày 1 tháng Giêng, ngày Tết hôm nay không giống như vài trăm năm trước đây. Sự phổ biến rộng rãi để chấp nhận ngày 1 tháng 1 là ngày Tết Dương Lịch đã liên tục trong bốn trăm năm qua.

La Mã là quốc gia đầu tiên chọn ngày 1 tháng Giêng làm ngày New Year trong năm đầu tiên 153 trước Công nguyên. Trước đó, 25/3 là ngày xuân phân (vernal equinox) được chọn là ngày đầu năm. Ngày năm mới này đã được đa số những quốc gia Cơ đốc giáo ở châu Âu chấp nhận (khoảng thời Trung cổ 1.100-1.400 trước Công nguyên).
 

Trải qua một thời gian khá lâu những quốc gia này mới chấp nhận sự thay đổi ngày tháng cho New Year bởi vì đầu óc cố hữu của họ. Với ngày tháng tính toán cho New Year không được phổ thông như những phong tục đang được bảo giữ, nó cũng không phải là thời điểm hoa màu hay những vụ mùa đặc biệt gắn liền với ngày tháng đó. Cho nên người ta nghĩ đây chỉ là một ngày bình thường sau mùa bầu cử, sau thời gian các đại biểu trúng cử bắt đầu nhận nhiệm vụ mới trong chính quyền Đế quốc La Mã mà thôi.

Muốn thay đổi ngày tháng New Year đã có từ trước là một việc làm to lớn đầy khó khăn cho việc tính toán làm Lịch.

Thời Đế quốc La Mã, sự thay đổi ngày tháng cho năm mới của họ đã tính ngược lại ba tháng tới tháng Giêng (tức là tháng Ba trở thành tháng Giêng). Do không có qui tắc nào của Lịch, trước đây nguyên gốc tháng 9, 10, 11, 12 đã đổi thành 7, 8, 9, 10 rồi xếp theo tuần tự.

Thời gian sau này các vị Hoàng đế La Mã của mỗi chính thể đã đặt tên mới cho các tháng, ví dụ như tháng Chín gọi là “Germanucus”, “Antonius” và “Tacitus”, tháng 11 có tên khác là “Domitianus”, “Faustinus” và “Romanus”.

Những sự bất tiện đó đã thúc đẩy vua Julius Caesar thiết lập nên bộ Lịch mới. Lịch này được phát minh bởi nhà Thiên văn học người Hy Lạp Alexandria (tính hệ thống thời gian cho Lịch theo mặt trời). Caesar muốn thay đổi ngày đầu năm từ ngày 1 tháng Giêng mà ông cho là hợp lý nhất, sẽ phù hợp với một trong những điểm chí (Solstices) hay điểm phân (Equinoxes) và tiết khí.

Để tưởng nhớ tới ông, Thượng nghị viện đã dùng tháng sinh nhật của ông (Quintilis) đổi tên thành tháng Bảy (July). Đến đời cháu của vua Caesar là Hoàng đế Augustus cũng có một tưởng thưởng danh dự tương tự để trao tặng cho ông được đổi tên Sextilis thành tháng 8 “August” , vì ông có công sửa sai trong sự tính toán của năm nhuận.

Lịch này không có những sửa đổi quan trọng nào cho đến năm 1582 khi Giáo hoàng Gregory XII nhậm chức, ông đã hợp nhất phương pháp tính Lịch hiện đại để phân chia tháng năm. Giáo hoàng sửa đổi và xác nhận ngày của năm mới là ngày 1 tháng Giêng bất chấp mọi chống đối của các hiệp hội tín đồ Cơ đốc giáo.

Các nước theo đạo Công giáo tiếp nhận ngày “New Year” trong lịch Gregorian sớm nhất. Người Tin lành (bắc châu Âu), Hà Lan năm 1583; Scotland năm 1600; sau đó đến những nước theo đạo Tin Lành và Đức Quốc chấp nhận ngày “New Year” vào năm 1700, Nga năm 1725; Anh, Mỹ, Canada năm 1752 và Thụy Điển năm 1753. Tất cả đều đồng tình với việc xóa bỏ 11 ngày của năm nhuần 1700.

Những nước phương Đông ảnh hưởng của nhiều tôn giáo như Hindus, đạo Lão, Phật giáo, Hồi giáo nhưng họ cũng dùng lịch giống Cơ đốc giáo. Nhật Bản chấp nhận ngày “New Year” Dương lịch vào năm 1873 và Trung Quốc (1912).

Người Trung Hoa tính theo hệ thống quay của mặt trăng cho nên ngày New Year đều rơi vào tháng bắt đầu có trăng khoảng trước bốn hay tám tuần khi mùa xuân đến. Ngày chính xác có thể vào khoảng giữa ngày 21 tháng Giêng hay ngày 21 tháng Hai của lịch “Gregorian Calendar”. Lịch Trung Hoa thiết lập không giống như lịch “Gregorian Calendar”, bởi vì phạm vi của mùa thay đổi. Và mỗi năm có một ký hiệu tượng trưng với 12 con Giáp theo qui tắc Ngũ hành với chu kỳ 60 năm.

Trước khi dùng Dương lịch, người Việt dùng Âm lịch. Lịch do triều đình soạn và ban hành, dĩ nhiên có chịu ảnh hưởng của khoa thiên văn và phép làm lịch của Trung Quốc.
 

Đời vua Lê và chúa Trịnh (thế kỷ 16-18) tên gọi cơ quan làm lịch của triều đình là Tư Thiên Giám. Hàng năm, Tư Thiên Giám soạn sẵn lịch cho năm sau, đến tháng 6 Âm lịch thì viết hai bản thảo, rồi dâng lên vua Lê và chúa Trịnh xin tiền in. Vua xem bản thảo xong, giao cho Trung Thư Giám viết lại, có Tri Giám trông coi việc khắc bản in. Tư Thiên Giám kiểm tra lại các bản khắc rồi mới cho đem in. Trong tháng Chạp, Tư Thiên Giám dâng vua Lê bản lịch mới in xong. Sáng ngày 24 tháng Chạp các quan vào triều làm lễ tiến lịch theo nghi thức do Bộ Lễ quy định rất tỉ mỉ. (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, Hà Nội: NXB KHXH, 1992, tr. 69.)

Thời nhà Nguyễn, năm Minh Mạng vừa lên ngôi (1820), Bộ Lễ tâu vua xin chọn ngày mồng 1 tháng Chạp thiết đại triều ở điện Thái Hòa để làm lễ ban lịch. Lịch do Khâm Thiên Giám (trực thuộc Bộ Lễ) soạn ra. Năm 1833 triều đình quy định vào tháng 5 Âm lịch, Khâm Thiên Giám ở Huế gửi lịch mẫu ra Hà Nội in để cấp phát cho địa bàn từ tỉnh Ninh Bình trở ra Bắc. Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh do Huế cấp phát. Năm 1940, vua Minh Mạng thay đổi địa điểm ban lịch: thay vì trong điện Thái Hòa thì tổ chức trước Ngọ Môn. Lịch giao về tới làng xã sẽ do các lý trưởng gìn giữ để dân chúng xem chung. (Theo Nguyễn Thị Chân Quỳnh, tại http://vietsciences.free.fr).

Lễ ban lịch đời Nguyễn còn được gọi là lễ ban sóc hay chính sóc. Ngày rằm tức 15 Âm lịch gọi là vọng; ngày mùng 1 Âm lịch gọi là sóc; chính sóc là mùng 1 tháng giêng.
Sưu tầm 

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015

Lịch sử & Ý nghĩa ngày Thành lập Quân đội nhân Việt Nam 22/12.

Ngày 22/12 không chỉ là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà đã trở thành Ngày hội Quốc phòng toàn dân - Một ngày kỷ niệm đầy ý nghĩa đối với toàn thể nhân dân Việt Nam.
Tên gọi “Quân đội nhân dân” là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”.
 Tháng 12-1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Chỉ thị nhấn mạnh: "Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền..., đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc..."

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
Ngày 22-12-1944, tại khu rừng thuộc huyện Nguyên Bình (Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã chính thức làm lễ thành lập, gồm 3 tiểu đội với 34 chiến sĩ được lựa chọn từ những chiến sĩ Cao-Bắc-Lạng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm chính trị viên, đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách Kế hoạch-Tình báo, đồng chí Vân Tiên (Lộc Văn Lùng) quản lý. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo.
Chỉ có 34 người, với 34 khẩu súng các loại nhưng đó là những chiến sĩ kiên quyết, dũng cảm trong các đội du kích Cao-Bắc-Lạng, Cứu quốc quân,... là con em các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, chí căm thù địch rất cao, đã siết chặt họ thành một khối vững chắc, không kẻ thù nào phá vỡ nổi. Sau lễ thành lập, đội tổ chức một bữa cơm nhạt không rau, không muối để nêu cao tinh thần gian khổ của các chiến sĩ cách mạng, đội tổ chức “đêm du kích” liên hoan với đồng bào địa phương để thắt chặt tình đoàn kết quân dân.

 Cố Đại tường Võ Nguyên Giáp
Chấp hành chỉ thị “phải đánh thắng trận đầu”, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (17 giờ chiều 25-12-1944) và sáng hôm sau (7 giờ ngày 26-12-1944) đột nhập đồn Nà Ngần, tiêu diệt gọn 2 đồn địch, giết chết 2 tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.
Hai trận đánh đồn Phai Khắt, Nà Ngần thắng lợi đã mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của quân đội ta suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.
Từ ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân luôn phát triển và trưởng thành. Ngày 22-12-1944 được xác định là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một tổ chức quân sự mới của dân tộc ta. Một quân đội của dân, do dân, vì dân; luôn gắn bó máu thịt với dân, luôn luôn được dân tin yêu, đùm bọc.

Bác Hồ và Cố Đại tường Võ Nguyên Giáp
Lịch sử 62 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của quân đội ta gắn liền với lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc. Một đội quân được Đảng và Bác Hồ rèn luyện, đã từng là những đội tự vệ đỏ trong cao trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh, đội du kích Bắc Sơn, Nam Kỳ, Ba Tơ, Cao Bắc Lạng, Cứu quốc quân đến Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Một đội quân lớp lớp cán bộ, chiến sĩ đã nối tiếp nhau bao thế hệ cầm súng chiến đấu, cùng toàn dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược hung bạo, giành lại độc lập thống nhất và bảo vệ vững chắc bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam XHCN và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang đối với cách mạng hai nước Lào và Cam-pu-chia anh em.
Năm 1989, theo chỉ thị của Ban bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, ngày 22-12 hàng năm không chỉ là ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là ngày Hội quốc phòng toàn dân. Từ đó, mỗi năm, cứ đến ngày này, toàn dân Việt Nam lại tiến hành các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội, nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, giáo dục lòng yêu nước, yêu CNXH, động viên mọi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Các hoạt động như mít tinh, hội thảo, hội nghị đoàn kết quân dân, giáo dục truyền thống, biểu diễn văn nghệ, đại hội thanh niên, thi đấu thể thao, hội thao quân sự,... được diễn ra ở khắp làng, xã, cơ quan đoàn thể, cơ sở đơn vị...

Duyệt binh trong Lễ kỷ niệm Ngày thành lập QĐNDVN 22/12
Những hoạt động của ngày hội như vậy nhằm động viên cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao cảnh giác, ra sức rèn luyện bản lĩnh chính trị và trình độ quân sự, không ngại gian khổ, vượt qua khó khăn, trong mọi hoàn cảnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Phát huy thành tích to lớn đã đạt được trong 70 năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tham gia xây dựng kinh tế đất nước và thực hiện tốt hơn chức năng làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; bảo vệ hòa bình, ổn định, phát triển trong khu vực và trên thế giới, xứng đáng với tên gọi: Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2015

Lịch thi học kì I

• Chiều thứ 6 (18/12/2015)
- Sử: 13h25 
- Công nghệ: 14h30
- Sinh: 14h50
• Chiều thứ 2 (21/12/2015):
- Kiểm ra khả năng nói Tiếng Anh: 13h10 - 15h
• Chiều thứ 4 (23/12/2015):
- Anh: 13h10
- Địa: 14h00
- Tin: 15h05
• Sáng thứ 2 (28/12/2015):
- Văn: 7h30
- Lý: 9h15
• Chiều thứ 3 (29/12/2015):
- Toán: 13h10
- Công dân: 15h00
*Lưu ý: 
- Thời gian có mặt: Buổi sáng: 7h; Buổi chiều: 13h
- 31/12: Học sinh nghỉ học.
- 1/1: Nghỉ tết dương lịch
- 2/1: Sơ kết HKI; chép TKB HKII (7h - 8h30)
CHÚC CÁC BẠN THI TỐT!

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

Kỉ niệm 33 năm ngày Nhà giáo Việt Nam

Vào ngày 13/11, lớp chúng em đã tổ chức lễ kỉ niệm 33 năm ngày Nhà giáo Việt Nam. Buổi lễ rất nghiêm túc và vui vẻ. Thành phần tham dự gồm:
+ Bác Tấn - trưởng ban đại diện cha mẹ học sinh
+
Một số hình ảnh của buổi lễ:
Bác Tân kể lại lịch sử hình thành ngày 20/11

Bác Cường đại diện ban CMHS tặng hoa cho cô Phượng

Bạn Linh thay mặt lớp phát biểu cảm nghĩ

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015

Bài dự thi 20-11

DÒNG CHẢY THỜI GIAN
Trên dòng chảy miệt mài của thời gian, con người có những phút lắng đọng, lòng bồi hồi  nhìn về miền xa thẳm.Thấp thoáng, len lỏi trong màn sương kí ức, mờ mờ ảo ảo tôi lại tìm thấy chính mình mà ngỡ mới hôm nào đây thôi.
Sáu năm về trước, khi tôi còn là một cô bé chập chững mới bước vào lớp1, khi miệng còn ê a bài hát “ngày đầu tiên đi học” và vội bước cùng mẹ đến trường. Lúc đó tôi cứ nghĩ trường là nơi mà có nhiều đồ chơi đẹp, ở đấy tôi sẽ gặp được rất nhiều bạn và chẳng thể thiếu người cha , mẹ ở bên cạnh tôi. Nhưng rồi tôi bỗng giật mình, hoảng hốt, hàng nước mắt rưng rưng khóe mắt rồi chợt vỡ òa khi mẹ buông thõng tay tôi khi vừa tới cổng trường, trước mắt tôi là một thế giới rất mới. Rồi nhẹ nhàng một bàn tay mềm dịu nắm lấy tôi và mẹ cũng thì thầm bên tai “ thầy cô sẽ là người cha, người mẹ thứ hai khi con ở trường” .Đến bây giờ tôi mới hiểu hết câu nói của mẹ.
Kỉ niệm ngày đầu tiên- ngày đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cuộc đời của tôi cứ mãi không sao xóa nhòa. Sáu  năm ngồi trên ghế nhà trường, thầy cô với một tình yêu tha thiết tụi học trò nghịch ngợm, một sự đam mê với nghề nghiệp hay là  một  trách nhiệm lớn lao của một người lái đò cần mẫn đã chắp cánh cho chúng tôi bao khát vọng, dạy cho tôi cách chấp nhận thất bại và vươn tới thành công. Và còn nhiều nhiều hơn nữa… chẳng sao kể hết. Một sớm mai mùa thu, khi lật vội mấy trang lưu bút tìm về miền kí ức , nhớ như in từng ánh mắt nụ cười, lời giảng của thầy rạo rực trang sách, buồn vui len lỏi từng lớp học,.. Tiếng trống trường lại cất lên khi đàn ve dạo khúc nhạc chia li bồi hồi, hàng phượng vĩ lúc bấy giờ sao mà trầm lặng đến lạ.Tôi sợ lắm, sợ mùa hè buồn da diết khi không còn bạn bè với cốc, bưởi, ô mai … ngồi chém gió, sợ phải xa những người mẹ, người cha thân mến ấy. Dù là ai trong xã hội này, từ già đến trẻ, giàu đến nghèo đều được lớn lên trong sự dạy dỗ của thầy cô. Vậy mà mấy ai trong chúng ta hiểu được công lao thầm lặng đó. Thầy cô là những người cần mẫn, một bệ phóng vững chải cho chúng ta vào đời. Thầy cô còn là một người làm vườn đầy nhiệt huyết ươm mầm và đợi đến lúc nó tỏa hương, kết trái cho xứng đáng với công lao của thầy cô. Các bạn hãy nhớ rằng: chẳng loài hoa nào trong vườn hoa đó đẹp bằng loài hoa học trò chúng ta đâu. Vì thế chúng ta phải cố gắng làm cho khu vườn ấy thật thú vị:hoa thơm, cỏ lạ tô điểm hết tất cả khu vườn của cô, thầy ạ. Thầy cô là vậy đó, cho đi là hạnh phúc . Trường còn là nhà, một ngôi nhà ấm áp : thầy cô là cha mẹ, bạn bè là anh em ,.... Họ luôn cố gắng để tạo ra một ngôi trường Lý‎ Tự Trọng hoàn thiện. tiếp nối các thế hệ đi trước, đã và  sẽ cố gắng, phấn đấu phát huy  truyền thống yêu nước, tinh thần ham học hỏi của anh hùng Lý‎ Tự Trọng.Thật tự hào khi tôi cũng  là học sinh của ngôi trường  này.
Cảm ơn thầy cô! Cảm ơn vì đã cho con biết được tầm quan trọng của việc học tập.Cảm ơn vì đã định hướng và thay đổi cuộc đời của bao thế hệ. Lời thầy cô chẳng bao giờ con quên. Có lần con nghe một câu nói rất hay: Nếu được ví như một nốt nhạc, thầy cô là nốt trầm xao xuyến, êm đềm nhưng dai dẳng. Nếu là một âm thanh thì thầy cô sẽ là tiếng sáo vi vu những giai điệu nhẹ nhàng, khó quên. Và nếu là một thứ vật chất không tồn tại thì thầy cô sẽ là một cơn gió nhẹ thoảng qua lặng lẽ, mang yêu thương, thì thầm bên tai những âm vang vọng mãi trong cuộc đời mỗi người. Thầy cô chúng tôi là vậy đó! Các bạn cũng đừng quên rằng “thời gian là dòng sông không bao giờ chảy ngược”. Nó sẽ mang theo tất cả trong một ngày nhất định, vậy hãy cố gắng tỏ lòng biết ơn thầy cô, đừng để những kỉ niệm đẹp này trôi qua một cách nhanh chóng.
                                “Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy”
                                   

                                                                                       LÊ KIM NGÂN – Lớp 7/6




CHUYỆN ÔNG NHỚ THẦY

Bây giờ ông nội già rồi
Mà sao mãi mãi ông tôi nhớ thầy
Chắc rằng trước, mỗi ngày đi học
Thầy dạy ông “Bán tự vi sư”
Bây giờ tuổi ngoài sáu mươi
Sao ông quên được ơn sư ban đầu
Người Việt Nam có sau, có trước
Nghĩa thầy trò bất diệt vô biên
Vào trường học lễ đầu tiên
Tôn sư trọng đạo, Bách niên đời đời
Ôi đau xót, cái thời hiện tại
Có học trò tai hại làm sao
Gặp thầy chẳng muốn hỏi chào
Qua cầu rút ván, có bao nhiêu người
Ngẫm nghĩ lại thấy đời bạc nhược
Đã làm thầy, chẳng được kính yêu
Muốn sang phải bắc cầu kiều
Muốn học được chữ, phải yêu lấy thầy
Chuyện lễ phép, xưa nay là vậy
Các bạn ơi ! Xin hãy lưu tâm
Nhân ngày nhà giáo hằng năm
Tôi xin kể lại chuyện ông nhớ thầy.

                                           HOÀNG MINH TÍN – Lớp 7/6



THĂM LẠI CÔ XƯA
                                      Em về thăm cô
                                      Một chiều gió lộng
                                      Dẫu không heo may
                                      Mà lòng xao xuyến

                                      Em về thăm cô
                                      Đường trơn ngõ hẹp
                                      Râm bụt rào thưa
                                      Vẫn hồng sắc thắm

                                      Em về thăm cô
                                      Tóc đen giờ bạc
                                      Bên hàng hiên xưa
                                      Cô ngồi lặng thầm

                                      Cô ơi ngày xưa
                                      Một thời yêu dấu
                                      Bao ân tình kia
                                      Dành trọn cho em
                                   TRẦN HỒ KHÁNH LINH – Lớp 7/6